Những tiếng “lóng” mà chúng tôi kể ra dưới đây là những tiếng được dùng phổ thông trong giới nuôi gà cả ba miền đất nước. Còn có những tiếng “lóng” địa phương (số ít) do không phổ biến sâu rộng nên chúng tôi không trình bày ra đây. Mong đọc giả thông cảm.
ÁP THỔ : Đây là một thế đá của gà dữ : dùng cần cổ mạnh bạo của mình gác lên cần cổ địch thủ, đè mạnh đầu xuống cho ngang tầm đá, rồi đá thốc lên cho gãy cần hay niểng cần, nếu bị trúng đòn, gà kia sẽ chịu không thấu
BỒNG NƯỚC: Còn gọi là “làm nước” hay “cho nước”. Đá xong một hiệp (còn gọi là một nhang) chủ gà được quyền ôm gà ra ngoài để “làm nước” cho gà được tươi tỉnh mà đủ sức đá hiệp sau. Đây là một nghệ thuật gia truyền, không ai dại gì chỉ vẽ cho nhau. Gà đá xong mệt ngất ngư thế mà gặp người làm nước giỏi, chỉ cần 5 phút sau gà hồi sức rất nhanh. Chuyên viên làm nước lúc nào cũng đem sẫn một hộp đồ nghề gồm có kim chỉ, củ nghệ già, xị rượu đế, ít lá trầu, ít lá ngải cứu, dao, kéo và một gói cơm nguội. Hễ gà bị thương ở đâu thì họ có cách “xử lý” đến đó : như rách da, tét mồng, rớt mỏ thì dùng kim chỉ may vá lại. Sau đó phun rượu tắm sơ rồi vỗ hen; cho ăn chút cơm …
GÀ CÁ SẤU : Gà có giọng gáy như bị nghẹt họng, gáy không ra hơi, không rõ tiếng, nghe như tiếng cá sấu kêu “nghé ngọ, nghé ngọ”. Đây là giống gà linh, nên chọn nuôi.
CẢN GÀ : Chọn giống tốt cho “phủ” mái dòng để cho bầy con tốt. Từ “cản” ở đây có nghĩa là phủ mái, đạp mái để có bầy con tốt mà nuôi.
CÁP ĐỘ : Chọn hai con gà cân xứng về sức vóc (to nhỏ, cao thấp, đã ăn độ hay chưa ăn độ …) và cựa dài ngắn ra sao để bắt cặp đá với nhau.
CẦN : Cần cổ gà lợi hại như một cánh tay. Cần càng to, chắc, mạnh gà càng chịu đòn giỏi khi xáp trận.
CÓNG ĐỘ: Gà nuôi lâu ngày không có dịp để xổ, đá nên khi ra trường trông điệu bộ lóng ngóng, đòn thế không ra gì. Gà này cần được nuôi lại đúng phương pháp mới dùng được.
GÀ CÚP : Gà đuôi còi cọc, cụt ngủn do bẩm sinh như vậy. Thường thì có tật có tài, nhưng cũng nên xổ thử nhiều lần xem sao. Thông thường gà cụt đuôi khi đá ưa té ngược ra sau, vì thế không đứng vững.
MAU CỰA: Gà con tơ mà cựa đã lú dài.
GÀ CỰA : Giống
gà nòi có cựa dài tối đa đến bốn năm phân. Mình gà nhiều lông như gà tàu, chân nhỏ, nặng tối đa 4 ký. Tài nghề của gà cựa lợi hại ở bộ cựa, có thể đâm chết tươi địch thủ, nếu trúng chỗ hiểm.
CHẠNG GÀ: Gà nòi có 4 chạng : ngoại chạng, chạng nhất, chạng nhì, chạng ba. Chạng ngoại hạng nặng trên 5 ký. Chạng nhất trên 4 ký. Chạng nhì nặng trên 3 ký. Chạng 3 nặng từ 3 ký trở xuống. Như vậy chạng có nghĩa là vóc dáng của con gà to nhỏ ra sao, căn cứ vào đó mà sắp hạng. Ngày nay đa số dân chơi gà thích nuôi gà chạng ba, vì dễ tìm gà đồng chạng mà cáp độ.
CHẠY LỒNG : Dùng hai cái bội đan lỗ nhỏ bằng khu chén để gà đút đầu qua không lọt. Bội nhỏ nhốt một gà. Bội lớn úp bên ngoài sao cho khoảng cách giữa hai vách bội cách nhau ít lắm cũng 7 phân để hai gà không xói mổ được nhau. Con gà kia thả rong bên ngoài. Thế là hai gà con trong con ngoài chạy vòng vòng chung quanh bội hầm hè cự nhau. Cách tập luyện này làm cho gà bền sức. Nên cho chạy lồng buổi sáng, vài ngày chạy một lần tối đa một giờ. Lần sau đổi con ngoài vô trong, con trong ra ngoài.
CHỒNG CỰA: Dùng vỏ cựa thật của con gà đã chết (lựa cựa dài và tốt), hoặc cựa giả bằng thép, chồng lên cựa gà sống cho cặp cựa dài thêm để đâm “cho ngọt”. Cách đá này mau ăn thua, nhưng phản nghệ thuật, lại ác đức không nên dùng. Nghệ nhân chân chính không nên dùng cách này.
DẦM CẲNG : Ngâm cẳng gà vào nước thuốc để cẳng được săn chắc, gân guốc. Thuốc này có thể mua tại các hiệu thuốc bắc, hay xin toa các ổng thầy dạy võ thiếu Lâm. Có thể tự mình pha chế theo công thức : nước tiểu trẻ trai, một ít phèn chua, củ nghệ thật già đâm nhỏ, một ít muối hột ngâm trong cái khạp nhỏ để dùng dần. Mỗi lần dùng múc ra vào lon sữa bò đổ vào một cái siêu, cho gà đứng vào sao cho ngập đến gối là được. Nên giữ cho gà đứng yên khoảng nửa giờ. Một tuần ngâm một hai lần càng tốt. Sau khi ngâm nên đem gà ra ngoài rửa sạch cẳng.
VÔ DĨA : Còn gọi là vô vĩa. Đẫy là một thế đá. Gà chui vào cánh của địch thủ vừa để né đòn, vừa để nghỉ sức. Khi thuận tiện thì ngóc đầu lên khỏi nách cánh để cắn vào cần địch thủ làm điểm tựa, rồi tung chân lên đá vào ức, vào bầu diều. Thế đá này rất độc có khi làm gãy cánh địch thủ. Thế này có hai cách là vĩa tối và vĩa sáng. Vĩa tối là chui lòn vào cánh địch thủ để cắn mổ lườn, nách, đùi địch thủ. Vĩa sáng là cách vừa trình hày ở trên. Có lẽ gọi là dĩa thì đúng hơn, vì hai gà cứ xoay tròn với nhau như vòng tròn mặt dĩa vậy.
ĐÁ SỎ : cắn mồng địch thủ làm điểm tựa rồi tung đòn (thường song phi) đá vào yết hầu, vào hàm dưới, hoặc vào cần cổ. Nếu trúng đòn đau gà kia sẽ la toáng lên và bỏ chạy. Gà cựa mà đá đòn này, nếu trúng đòn, đối thủ không chết cũng bị đui.
ĐÒN NẠP : Đá mạnh vào địch thủ bằng những cú song phi, cú nào cú nấy rất đích đáng.
GÀ ĐÒN : Gà Đòn có những đặc điểm khác hẳn với gà Cựa. Gà Đòn vóc dáng cao to, thân hình chắc nịch, ít lông nhất là phần cổ và đùi; chân to cao, cựa ngắn và tà đầu. Khi đá gà Đòn chủ yếu dùng sức.
ĐỘ TIỀN : Chi những cái vảy tròn, no đầy, đóng một hàng từ góc ngón nội lên đến mí cựa. Gà nào vảy độ tiền đóng không tới mí cựa là gà đá thua nhiều hơn thắng, nên loại bỏ đừng nuôi tốn lúa.
ĐỘC CƯỚC : Gà đá từng cái một, khi chân này, khi chân khác, nhưng đá cú nào chắc nịch cú nấy.
ĐỘC LONG: Đúng ra phải gọi là “độc nhãn long”. Gà chỉ có một mắt do bẩm sinh mà có. Đây là loại gà dữ.
ĐOẢN THIỆT : Gà lưỡi ngắn bẩm sinh, tưởng chừng không có lưỡi. Có nơi gọi là gà “lưỡi rùa”. Đây là giống gà linh, hiếm thấy. Trong sách “Kinh Kê” nói rằng gà này khi gáy miệng nó rất thúi.
ĐỨNG KHUYA : Đây là giống gà dữ, lì đòn, đá cả buổi gần kiệt sức mà vẫn không chịu chạy. Nên chọn mái này mà nuôi.
GÀ GÂN : Gà có thân hình chắc nịch, thịt săn chắc, chân khỏe, khở, gân guốc: Gà này đá đòn rất đau.
GÃY CẦN : Bị đá đồn mạnh làm trẹo khớp xương cổ. Nếu nhẹ, sau khi xoa bóp có thể đủ sức đá lại. Nhưng nếu nặng đòn thì lăn quay ra đít giãy đành đạch như sắp chết rồi thua luôn. Gà Cựa đâm trúng cần, bị chết tức khắc.
GHIM : Hai xương nhô cao nằm sát hậu môn (phía dưới phao câu). Hai ghim này phải cao bằng nhau mới tốt. Hễ một cái cao một cái thấp là số gà bị đui.
HANG CUA: Hai chỗ hóp vào ở hai bên cuối cần cổ ngang với vai gà gọi là “hang cua”. Đây là chỗ hiểm nhất, nếu bị cựa đâm trúng vào thì gà nắm chắc phần thua, có khi chết ngay. Nên chọn con nào có hang cua nhỏ mà nuôi. Gà nào hang cua rộng loại bỏ đừng tiếc.
HỔ TRẢO : Một hay nhiều vảy ở ngón chân (ngón Chúa càng tốt) nổi lên vài chấm nhỏ li ti màu đen hoặc hồng. Dù là gà Đòn hay gà Cựa có vảy này đều là gà dữ cả.
HỔ ĐẦU : Một cái dặm nhỏ ở đầu ngón Chúa. Gà dữ hiếm thấy.
HỒI MÃ THƯƠNG : Đang đá, giả thua bỏ chạy quanh bồ, gà kia rượt theo bén gót. Đột nhiên con bỏ chạy quay lại đá tiếp trong khi địch chủ không phòng bị. Gà này tốt nên chọn nuôi.
KÉ GÀ : Khi đá gà thường bị thương tích như rách da hoặc cựa đâm sâu vào thịt. Nếu không rửa vết thương và xức thuốc thì chỗ đó khi lành sẽ nổi lên những mục như mụn cóc. Một là chích thuốc trụ sinh, hai là mổ ra nặn “cùi” rồi xức thuốc cho mau lành.